Trang chủ Phật pháp Tin tức Sinh hoạt Liên hệ  
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Liên hệ
 
     
 
 
 
  Slideshow image  
 
 
 
Khách viếng thăm: 434617
 
 
   
 
 
PHẬT PHÁP | VẤN ÐÁP | TRUYỆN | THƠ | THUYẾT PHÁP | NHẠC PG | VIDEO PG
 
Sự Thị Hiện Của Ðức Thế Tôn
Ngày đăng: 2007-09-17 08:08:18
Tác giả: Mãn Từ

      - Bạch ngài! Có ai thác rồi mà không sanh trở lại chăng?

      - Có người sanh trở lại đời sau, cũng có người không sanh ra nữa.

      - Ai sanh trở lại đời sau? Và ai không sinh ra nữa?

      - Những ai còn ân nghĩa, luyến ái thì còn sanh trở lại đời sau; và những ai dứt ân nghĩa, luyến ái thì không sanh ra nữa.

 

Đây là cuộc đối thoại giữa Tỳ kheo Na Tiên và Vua Milanda, tiêu biểu cho hai nhà thông thái của thế gian và xuất thế gian, đàm luận về lý Bát Nhã. Người viết muốn mượn đoạn kinh nầy để nói về vấn đề sinh trở lại đời sau hay không còn sinh trở lại đời của chúng sanh, và của Đức Thế Tôn, bậc cha lành của chúng ta. Đức Thế Tôn có phải chăng vì ân nghĩa, luyến ái mà bị sanh ra cõi đời như bao chúng sanh hay là một sự thị hiện mầu nhiệm, hy hữu cho thân rốt sau của Ngài?.

 

Tất cả chúng ta đều nằm trong sự thay đổi, đổi thay, vận hành của vô thường. Ai trong chúng ta cũng đã bao lần vào sanh ra tử với bao hình dạng khác nhau từ quá khứ đến hôm nay và mãi về sau. Chúng ta, ai cũng đã từng đau, từng khóc bao lần khi sinh từ bụng mẹ ra.  Có ai trong chúng ta sẽ ngộ nhận và thốt ra lời “Đây là thân rốt sau của ta” chăng? Và, có ai là người hiểu thấu bản hữu chân như, thật tướng của vạn pháp? Ai sẽ sinh ra, mất đi và tái sinh trong cái tuệ giác không nhiễm ô của đời ngũ trược? Trừ những bậc đã ngộ lý duyên sanh, đã chứng thánh quả. Tất cà còn lại vì ân nghĩa, luyến ái mà sanh ra trong cõi đời.

 

Cuộc sống của một chúng sanh, là sự huân tập những hạt giống thiện và ác trong đời sống hằng ngày, được dẫn dắt bởi tham, sân, si. Đó là sự thiết lập những mối liên kết với tâm thức qua những khuynh hướng có mục tiêu. Con người là sự thừa tự của nghiệp quả, chính cái đó sẽ dẫn dắt con người đi đầu thai vào các cảnh giới trong vòng sanh tử luân hồi với thân và tâm được thừa hưởng từ sự tích lũy nghiệp thiện và ác ở kiếp sống vừa qua.

 

Khi nhân duyên không còn hội đủ thì con người sẽ mất đi, hay nói khác hơn là sự tan rã, ẩn tàng, chờ hội đủ nhân duyên để tái hiện dưới một hình thức khác. Và nguyên nhân của cái chết là do:

- Mạng căn (hay thọ mạng) của chúng sanh mỗi loài đã hết. Cái chết này là mạng triệt (Ayukkhaya)

      - Sức hành của Nghiệp tạo nên đời sống đã kiệt. Cái chết này gọi là Khamma-kkhaya (Nghiệp dĩ)

      - Sự chấm dứt cùng một lúc của hai nguyên nhân trên - Ubbayakkhaya .

      - Cuối cùng có thể do những hoàn cảnh bên ngoài như tai nạn, biến cố bất ngờ, hiện tượng thiên nhiên, hay Nghiệp quả từ kiếp trước. Cái chết này gọi là Upacchedake.

 

Nếu một người được tích luỹ bởi những thiện nghiệp (cực thiện) thì khi xả báo thân nầy sẽ tái sanh ngay, vào những cảnh giới tốt lành ngay. Hay là những việc cực ác thì cũng sẽ đoạ ngay vào cảnh giới địa ngục, và nếu là vô ký, điều thiện và điều ác cân bằng nhau trong cán cân Nhân quả thì đó là sự khó khăn nhất, cho sự quyết định đi đầu thai hoặc tái sanh. Sự đầu thai hay tái sanh là sự kết hợp giữa các nhân duyên, giữa tinh cha huyết mẹ, tứ đại và nghiệp lực.

 

Vì là do nghiệp lực dẫn dắt đi đầu thai hay tái sanh. Cho nên, có những chúng sanh, khi nhập thai không có chánh niệm, khi trụ thai hoặc có lúc bên hông trái, có lúc bên hông phải làm cho người mẹ rất nhiều sự nhọc nhằn đau đớn. Nghiệp lực tác động lên tâm thức của người mẹ, làm cho người mẹ có những tạp hạnh, hoặc dục tâm hừng thạnh, hay thèm các mùi vị nồng, chua…, hoặc tham lam, bỏn xẻn, vàng võ gầy gò, người mẹ đi đứng nặng nề. Còn thai nhi bị nhiễm các thứ không sạch trong thân của người mẹ, tác động cùa người mẹ của ảnh hưởng rất nhiều đến thai nhi. Sự hình thành thai nhi trong bụng mẹ là một quá trình gò bó gút thắt. Thai nhi chào đời với tiếng khóc đầu tiên, thai nhi không còn biết được những gì trong quá khứ của mình bởi sự mê mờ lúc lâm chung hay bởi những hạt giống trong đời trước không đủ lớn mạnh để theo nghiệp thức tái sanh vào hình thái khác.

 

Tâm sở Căn bản phiền não gồm có: tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến; ác kiến gồm năm món, chung quy gồm mười món. Trong đó có năm món độn căn là những phiền não hay tâm sở khó đoạn trừ nhất, là tham, sân, si, mạn, nghi và năm món lợi căn, những tâm sở dễ đoạn trừ nên gọi là lợi căn, gồm thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến, và giới cấm thủ kiến. Năm món nầy là “thuốc lú” làm cho con người khi tái sanh hoặc đầu thai không còn nhớ gì nữa cả, mờ mịt; riêng năm món độn căn tâm sở là những phiền não đeo đuổi con người trong suốt các hình thức tái sanh hay nghiệp lực.

 

Cho nên, con người bị sinh ra trong cõi đời nầy, bị nghiệp lực dẫn dắt đi, như trâu bị xỏ mũi để tái sanh. Sự đâu khổ được biểu hiện khi thai nhi vừa mới chào đời trong tiếng khóc đầu tiên, sự nóng lạnh đầu tiên mà thai nhi tiếp xúc đã làm cho thai nhi cảm thấy đau đớn. Và chu trình của một con người là một chuỗi dài của những sự đau khổ. Nói như thế không phải là sự bi quan, mà chính con người chúng ta bị nghiệp lực dẫn dắt, bị tham lam, bị ngu si, sân hận làm cho con người không thực sự sống trong sự an lạc và hạnh phúc được.

 

Trái lại, đức Thế Tôn là một vị Bồ Tát. Bồ Tát Hộ Minh, nơi pháp hội của Đức Phật Ca Diếp giữ gìn cấm giới, phạm hạnh trong sạch, khi mạng chung sanh lên cõi trời Đâu Suất Đà Thiên trụ nơi Nội Viện Thiên Cung. Vô lượng chúng sanh khi sanh lên cõi trời Đâu Suất thấy sự vui sướng đều bị mê nhiễm chỉ thích hưởng thụ, không phát khởi tâm tu tập dõng mãnh để lên những cảnh giới an lành hơn nữa, nhưng Bồ Tát Hộ Minh, tuy thấy cảnh ngũ dục thắng diệu, song vẫn không mê hoặc, lại nhớ đến nhân duyên bản nguyện của mình, vì dẫn dạy chúng sanh nên mới ứng hiện nơi cõi nầy nên không bị nhiễm ô. Ngài thường thuyết Pháp giáo hoá chúng sanh nơi cõi trời làm cho ai ai cũng thấm nhuần mưa pháp, hoan hỷ. Những vị Bồ tát sanh ra một lần nữa (nhất sanh bổ xứ) trong đời để giáo hoá chúng sanh, để hoàn thành con đường tu tập hạnh Bồ Tát Đạo của mình, viên mãn thành Phật.

 

Chính vì thế, khi hội đủ nhân duyên Bồ Tát quán sát năm việc:

      - Căn duyên của chúng sanh đã thuần thục hay chưa?

      - Đã đến thời kỳ hoá độ chưa?

      - Trong châu diêm phù đề, quốc độ nào ở giữa?

      - Trong các chủng tộc, tộc tánh nào quý thạnh?

      - Về nhân duyên quá khứ, ai là bậc chân chánh đáng làm cha mẹ mình?

 

Sau khi quán sát năm việc ấy xong. Ngài biết rõ, hiện nay các chúng sanh do mình giáo hoá từ khi mới phát tâm, thiện căn đã thuần thục. đã đến thời kỳ những kẻ hữu duyên có thể lãnh thọ pháp mầu thanh tịnh. Trong cõi Đại Thiên thế giới nầy, nước Ca -Tỳ-La-Vệ ở giữa Châu Diêm Phù Đề. Trong các chủng tộc, có họ Thích-Ca thuộc dòng Cam Giá là quý thạnh nhất. Về nhân duyên quá khứ, Bạch Tịnh Vương và Ma Gia hoàng hậu là bậc hiền lương chân chánh, có thể làm cha mẹ của mình.

 

Bồ Tát xem xét con bạch tượng ở cõi trời, thấy nó mãnh mẽ, vững vàng như sư tử chúa, cưỡi tượng vương nầy giáng sanh, tất không còn sự rối loạn, sợ hãi, tâm được an nhiên. Bồ Tát cõi con bạch tượng sáu ngà, đầu voi ửng sắc đỏ ngà trang nghiêm bằng vàng, từ hư không đi xuống, chun vào bên hông phải của hoàng hậu Ma Gia và nhập thai.

 

Bồ Tát khi nhập thai có chánh niệm, trụ thai và xuất thai đều có chánh niệm, làm cho người mẹ không đau đớn, không bị ô nhiễm trong bào thai mẹ, đem lại cho người mẹ sự khinh an, ưa giữ giới hạnh, không cò lòng dục nhiễm, ưa bố thí, thực hành hạnh từ bi thương xót không làm tổn hại đến muôn loài, dung sắc tươi vui. Trong thời gian trụ thai, Bồ Tát vẫn thường ra vào tạng thai ấy mà thuyết pháp cho chư Thiên và cũng thường thuyết pháp nơi tạng thai ấy. Đến khi đản sanh, Ngài đi ra từ hông phải của mẹ, không như sự xuất thai của bất cứ một chúng sanh nào, không bị nhiễm ô. Muôn hoa kheo sắc, cảnh vật thanh bình, các loài chim cùng vui mừng, gõ lên những nốt nhạc du dương chào đón bình minh trở lại trong đêm dài tăm tối.Chư Thiên dùng hoa trời và nhạc trời tấu khúc để cúng dường, và đem hoa sen nâng đỡ bước chân của Ngài. Đến bước thứ bảy, Ngài dừng lại nhìn vào bốn phương tám hướng nói về bản nguyện cùng hạnh nguyên của thân cuối nầy “Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn”

 

Thái tử Tất Đạt Đa là một vị Bồ Tát đã tu tập trong vô lượng kiếp, hành Bồ Tát Đạo. Đản sanh là một trong tám tướng Thành đạo. Ngài thị hiện ra cõi đời nầy vì nguyện lực của vô lượng kiếp, vì lòng từ bi rộng lớn ấy với trí tuệ siêu việt của Ngài, Ngài không bị đắm chìm trong dòng nước tử sinh, trong sự ô nhiễm của sinh tử. Ngài là một con người bình thường như phi thường, là bậc đạo sư cao cả nhất, là con người vĩ đại nhất của nhân sanh, không như bao chúng sanh vì ân nghĩa, luyến ái mà sanh ra đời trong sự dắt dẫn của vô minh. Đó là sự khác biệt giữa “đản sanh” và “tái sanh” hay “sanh ra”.

 

Ngài ra đời vì một hoài bão lớn, như trong kinh Pháp Hoa đã dạy: “... Chư Phật Như lai vì muốn khai mở cho chúng sanh sự thấy biết của Phật nên xuất hiện ở thế gian, muốn chỉ thị cho chúng sanh sự thấy biết của Phật nên xuất hiện ở thế gian, muốn làm cho chúng sanh tỉnh ngộ sự thấy biết của Phật nên xuất hiện ở thế gian, muốn làm cho chúng sanh nhập vào con đường thấy biết của Phật nên xuất hiện ở thế gian.”

 

Ở đây, tri kiến hay sự thấy biết của Phật chính là trí tuệ. Trí tuệ không phải là vấn đề gì mới mẻ, chẳng phải là vấn đề của riêng cá nhân ai hay của tôn giáo nào.

 

Chân lý vốn tự hoàn trong bản tính miên viễn của nó. Phật giáo có ra đời hay không ra đời thì cái chân lý nó vẫn vậy.

 

Trước Đạo Phật đã có biết bao tôn giáo ra đời, có nhận chân được chân lý hay chăng nhưng cũng chỉ để thoả mãn địa vị quyền lợi của giai cấp thống trị, của một tầng lớp xã hội, và “ vùi con đen dưới hầm lửa đỏ”, không đem lại được sự an lạc, hạnh phúc đích thực cho con người cụ thể là sự bất bình đẳng trong xã hội Ấn Độ bấy giờ, không có bình đẳng thì làm sao có được sự thương yêu, hay lòng từ bi như câu: “ Tất cả chúng sanh, nước mắt cùng vị mặn và máu cùng đỏ” được.

 

Đức Phật, Người đã chứng ngộ được lý duyên sanh, duyên khởi cùa 12 móc xích, các chân lý sự thật của cuộc đời: sự khổ đau, nguyên nhân của khổ đau, sự an lạc khi diệt trừ những đau khổ, và con đường để chuyển hoá. Đó là những điều mà đức Phật khám phá ra với tuệ giác, hay trí tuệ siêu việt khi ngồi dưới cội Bồ Đề cách đây 2631 năm, khi sao mai vừa hiển lộ. Con người đang sống và cùng đắm chìm trong cái vòng quay của khổ đau, sự cam chịu, sự mất nhân phẩm, đạo đức của một xã hội, danh phẩm con người được coi là giai cấp thấp kém nhất bị chà đạp trong kiếp người.

 

Đức Phật đã chỉ cho chúng sanh thấy được những gì hiện thực trong cuộc sống đời thường, và phương cách để chuyển hoá chúng. Giáo pháp của đức Thế Tôn ví như ngọn đèn, là chiếc phao đưa chúng sanh đang đắm chìm trong cái biển mê sanh tử ấy, để quay về ngộ nhận cái chân tâm từ xưa vốn vắng lặng vốn bình đẳng và từ bi.

 

Há không phải như trong kinh Lăng Nghiêm đức Phật đã từng dạy : “Tuỳ chúng sanh tâm ứng sở tri lường”  đó sao. Nói cách khác là tuỳ theo căn cơ trình độ khác nhau mà có những nhận thức khác nhau. Điều cần nói ở đây rằng, đâu là trí tuệ, đâu là hiểu biết đúng đắn, đâu là hiểu biết đem lại lợi ích thiết thực bền vững cho cá nhân giữa cộng đồng xã hội, đâu là hiểu biết đem lại an lạc giải thoát cho con người trong chuỗi duyên sinh bất tận giữa xã hội nhiễu nhương đầy phiền toái phức tạp khổ đau nầy.

 

 Đó là, Chánh tri kiến trong Thánh đạo tám chi, là Tịnh huệ trong các luận A-tì-đàm, là Tuệ không trong Trung quán, là tri kiến Phật, tri kiến như thật, tri kiến giải thoát trong kinh Pháp hoa. Đó lại là sự hiểu biết về nhân quả nghiệp báo trong kinh Thập thiện ...

 

Trong kinh Lăng Nghiêm, Phật dạy: “A-nan, Các ông nên biết, hết thảy chúng sinh từ vô thỉ đến nay sống chết nối luôn đều do không biết thể tính trong sạch sáng suốt của thường trụ chơn tâm mà lại chỉ dùng các vọng tưởng, vì vọng tưởng đó không chân thật nên mới có luân hồi. Nay ông muốn học đạo vô thượng bồ đề, phát minh chân tính thì nên lấy tâm ngay thẳng mà đáp lại những câu hỏi của ta. Mười phương Như lai đều do một đường thoát ly sanh tử là dùng tâm ngay thẳng. Tâm mà nói là ngay thẳng thì cứ như vậy, từ địa vị đầu đến địa vị cuối cùng, chặng giữa, hẳn không có những tướng quanh co.”

 

Vâng, Đức Phật với tám tướng thành đạo của Ngài, của một bậc Bồ Tát thị hiện thân sau cùng, để thành tựu viên mãn hạnh nguyện và bản nguyện Bồ Tát hạnh của Mình, từ chỗ nhập thai, xuất thai… chuyển bánh xe pháp, và nhập Niết Bàn. Ngài ra đời dưới gốc cây, thành đạo dưới gốc cây trong tuổi thanh xuân, độ tuổi có trách nhiệm lớn nhất đối với non sông, đất nước và nhập Diệt cũng dưới gốc cây, đó là thông điệp ly ngôn gởi đến chúng ta, những người con của Ngài.

 

Hoà trong niềm hân hoan

“Bồ Tát Tất Đạt Đa với đại nguyện giáng trần

Đất nở Sen vàng bảy cánh…

Trên mỗi bước chân đi…

Ôi phật đản

Ngày trái tìm rực sáng của con người”.

 

Ngày mà chúng ta cùng tưởng nhớ đến đấng cha lành, bậc giác ngộ, và từ bi. Chúng ta hãy đem những gì mà chúng ta học được, chuyển hoá được tâm thức chúng ta từ những lời dạy của Ngài. Đó là món quà cao quý nhất mà chúng ta kính gởi đến Ngài.

 

Mừng ngày Khánh Đản, xin ngồi lại với nhau thật bình yên, để cùng cảm nhận sự mầu nhiệm của một Ngày Sinh mà chẳng bao giờ có Ngày Diệt, một ngày mà muôn loại được tận hưởng, tràn trề niềm an vui và hạnh phúc trong Ánh Đạo Vàng.

 
    CÁC BÀI KHÁC :
 
 
         
   
©2007 by Quang Thien Temple. All rights reserved.
704 East E Street, Ontario, CA 91764 - Phone & Fax: (909) 986-2433
Mọi thư từ bài vở xin liên hệ quangthien@quangthientemple.org