Trang chủ Phật pháp Tin tức Sinh hoạt Liên hệ  
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
Liên hệ
 
     
 
 
 
  Slideshow image  
 
 
 
Khách viếng thăm: 434599
 
 
   
 
 
PHẬT PHÁP | VẤN ÐÁP | TRUYỆN | THƠ | THUYẾT PHÁP | NHẠC PG | VIDEO PG
 
Phiền não do tri kiến đoạn trừ
Ngày đăng: 2007-07-04 22:21:02
Tác giả: Thích Hạnh Bình

Theo sự phân tích của đức Phật, loại phiền não thứ nhất là do thiếu tri kiến, tức thiếu sự hiểu biết mà gây nên phiền não. Như trong kinh “Tất Cả Lậu Hoặc”(1) . Ðức Phật mô tả như sau:
“Này các Tỷ-kheo ! Ở đây, có những kẻ vô văn phàm phu (2) ít nghe, không thấy các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp các bậc Thánh… không tuệ tri (hiểu rõ) các pháp cần phải tác ý và các pháp không cần phải tác ý…. Này các Tỷ-kheo ! Thế nào là những pháp không cần phải tác ý mà vị ấy tác ý ? Là các pháp mà vị ấy tác ý, các dục lậu… hữu lậu… và vô minh lậu chưa sanh khiến sanh khởi, đã sanh càng tăng trưởng. Ðây là những pháp không cần phải tác ý mà vị ấy tác ý. Này các Tỷ-kheo ! Thế nào là các pháp cần phải tác ý mà vị ấy tác ý ? Là tác ý những pháp những dục lậu… hữu lậu… và vô minh lậu chưa sanh không sanh khởi, đã sanh được trừ diệt”.

Ý nghĩa đoạn kinh vừa dẫn trên, trọng tâm đức Phật thảo luận vấn đề là: Lấy gì làm cơ sở để tác ý và đối tượng tác ý là gì. Vấn đề thứ nhất, được đức Phật chỉ dạy, là lấy lấy sự hiểu biết tức tri kiến để làm cơ sở cho việc tác ý. Tri kiến ở đây được ám chỉ cho lời giảng dạy của đức Phật hay lời nói của những người có trí, là những chân lý của cuộc sống mà đức Phật cũng như các bậc trí đã kinh nghiệm, đúc kết từ cuộc sống của con người. Vấn đề thứ hai là đối tượng tác ý. Ðối tượng mà đức Phật khuyên chúng ta cần phải tác ý là những gì mang lại thiết thực lợi lạc và bình an cho sự sống chúng ta, ngược lại những gì mang lại cho con người những khổ đau và phiền muộn, đó là những pháp thuộc về dục lậu (3), hữu lậu (4)và vô minh lậu (5) .

Nói một cách khác, những pháp không thực tế, xa vời, viễn vông, không mang lại hạnh phúc, những pháp này, đức Phật khuyên chúng ta nên từ bỏ, không nên tác ý, vì khi tác ý về chúng chỉ tăng thêm sự khổ đau cho con người mà thôi. Ðể mô tả về ý này, đức Phật đưa một vài điển hình về những vấn đề không cần phải tác ý như sau: “Ta có mặt hay không có mặt trong thời quá khứ ? Có mặt như thế nào ? Ta có mặt hay không có mặt trong thời vị lai ? Và có mặt như thế nào?....” . Ðây là những vấn đề thuộc siêu hình, theo truyền thống Phật giáo nguyên thủy, đức Phật từ chối không trả lời những vấn đề này, vì chúng không có liên hệ đến mục đích của đời sống phạm hạnh, không đưa đến chấm dứt khổ đau, không có ích lợi gì cho sự giải thoát giác ngộ. Như trong kinh ‘Tiễn Dụ’ (6) , đức Phật dạy:
“Cũng vậy, thế giới thường hay vô thường; thế giới hữu biên hay vô biên; sinh mạng là thân hay sinh mạng khác thân; Như Lai tuyệt diệt hay Như Lai không tuyệt diệt… Ta không xác quyết nói những điều này. Vì sao ? Vì những điều này không tương ưng với cứu cánh, không tương ưng với pháp, không phải căn bản phạm hạnh, không khai mở trí, không đưa đến giác ngộ, không đưa đến Niết-bàn (7).”

Theo đức Phật, vấn đề ta có mặt hay không có mặt trong quá khứ, sau khi chấm dứt cuộc sống này, ta có tồn tại hay không tồn tại, và tồn tại như thế nào trong tương lai… thì cuộc sống này của con người vẫn tồn tại những khổ đau. Việc cần phải làm trước tiên của chúng ta là giải quyết những vấn đề khổ đau trong cuộc sống hiện tại. Do vậy, những nghi vấn thuộc về siêu hình là không thực tế, không phải là đối tượng tác ý cho một người phàm phu đang hiện hữu những khổ đau. Ðây là ý nghĩa của câu: ‘Không tác ý những vấn đề không cần phải tác ý’ đã được đức Phật giảng dạy.

Tóm lại, chúng ta thấy, thái độ quyết định “Không tác ý những vấn đề không cần phải tác ý” hay “Tác ý những vấn đề cần phải tác ý” thuộc lãnh vực ‘tri kiến’ không phải ‘niềm tin’. Do vậy, những loại khổ đau thuộc về thiếu tri kiến, muốn diệt trừ chúng phải do tri kiến đoạn trừ. Ví dụ, một thí sinh bước vào phòng thi, hay người nhân viên làm công tác chuyên môn; thí sinh phải thuộc lòng bài vở và hiểu biết những gì mà mình phải thi; người nhân viên phải có kiến thức chuyên môn trong lãnh vực làm việc của mình. Thuộc lòng bài vở của thí sinh hay có kiến thức chuyên môn của người nhân viên thuộc về ‘tri kiến’, là điều kiện không làm cho họ sợ hãi và lo âu, nếu không có điều kiện này là nguyên nhân của khổ đau.
Ðó là ý nghĩa của câu: Có những loại phiền não phải do tri kiến được đoạn trừ.


______________________________________________
1) Kinh Trung Bộ, sđd, trang 20-21.
2) Chỉ cho những người không hiểu rõ Phật pháp, chưa chứng ngộ chân lý.
3) Là những khổ đau phiền não do tham dục mà sinh.
4) Là những loại phiền não do chấp thường mà có.
5) Là những loại phiền não, do ngu si mà sinh.
6) Viện Cao đẳng Phật học Hải đức Nha Trang dịch, kinh Trung A Hàm tập 4, kinh ‘Tiễn Dụ’, Viện NCPHVN ấn hành, 1992, trang 747.
7) Là sự chấm dứt lòng tham lam, sân hận và ngu si.

 
    CÁC BÀI KHÁC :
 
 
         
   
©2007 by Quang Thien Temple. All rights reserved.
704 East E Street, Ontario, CA 91764 - Phone & Fax: (909) 986-2433
Mọi thư từ bài vở xin liên hệ quangthien@quangthientemple.org